1. NGƯỜI THAM GIA NGHĨA VỤ CÔNG AN NHÂN DÂN ĐƯỢC ƯU TIÊN THI TUYỂN VÀO CÁC TRƯỜNG CÔNG AN NHÂN DÂN
Đây là một trong những chính sách ưu tiên đối với người tham gia nghĩa vụ Công an nhân dân được quy định tại Nghị định số 129/2015/NĐ-CP ngày 15/12/2015 của Chính Phủ quy định về thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân.
Cụ thể, trong thời gian phục vụ tại ngũ, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ được hưởng các chế độ, chính sách quy định đối với hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ trong lực lượng vũ trang. Khi hết thời hạn phục vụ được trợ cấp học nghề hoặc trợ cấp việc làm và được ưu tiên thi tuyển vào các trường Công an nhân dân, được hưởng chế độ, chính sách khác theo quy định của Chính phủ.
Các đối tượng đủ điều kiện tuyển chọn thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân nộp hồ sơ gồm: Bản khai lý lịch theo mẫu, Bản sao giấy khai sinh, các văn bằng, chứng chỉ về học vấn...cho Công an cấp huyện nơi công dân có hộ khẩu thường trú. Sau khi được tuyển chọn phải tham gia thực hiện nghĩa vụ Công an nhân dân 03 năm. Thời gian thực hiện nghĩa vụ được tính từ ngày giao nhận công dân; trong trường hợp giao nhận tập trung thì tính từ ngày đơn vị Công an nhân dân tiếp nhận đến khi được cấp có thẩm quyền quyết định xuất ngũ. Thời gian đào ngũ, thời gian chấp hành hình phạt tù không được tính vào thời gian thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân. Tổ chức, cá nhân có hành vi trốn tránh, chống đối, cản trợ việc thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân sẽ bị xử phạt tùy theo mức độ vi phạm.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2016, thay thế Nghị định số 12/2007/NĐ-CP ngày 17/01/2007.
2. TỔ CHỨC VÀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA THANH TRA BỘ CÔNG THƯÆ NG
Ngày 14/12/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 127/2015/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Công Thương.
Theo đó, Thanh tra Bộ Công thương là cơ quan của Bộ Công Thương, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân và phòng, chống tham nhũng; có nhiệm vụ thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân và phòng, chống tham nhũng theo quy định. Thanh tra Bộ có con dấu, tài khoản riêng; có các phòng nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu sự chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng, sự chỉ đạo hướng dẫn về công tác, về tổ chức, nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ. Thanh tra Bộ có Chánh Thanh tra, các Phó Chánh Thanh tra, thanh tra viên và công chức khác. Chánh Thanh tra Bộ có quyền trưng tập công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Công thương tham gia hoạt động thanh tra.
Hàng năm Thanh tra Bộ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch thanh tra trình Bộ trưởng phê duyệt; hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ Công thương và Thanh tra Sở; chủ trì đoàn thanh tra liên ngành hoặc tham gia các đoàn thanh tra liên ngành do Bộ, ngành thành lập; theo dõi, kiêm tra, đôn đốc việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của Bộ trưởng và Chánh Thanh tra Bộ; thường trực tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng.
Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/02/2015.
3. NGƯỜI LAO ĐỘNG THỜI VỤ ĐƯỢC NGHỈ ÍT NHẤT 01 NGÀY/TUẦN
Hằng tuần, người lao động được nghỉ ít nhất một ngày (24 giờ liên tục). Trong những tháng thời vụ hoặc phải gấp rút gia công hàng xuất khẩu theo đơn hàng, nếu không thực hiện được nghỉ hằng tuần thì phải bảo đảm hằng tháng có ít nhất 4 ngày nghỉ cho người lao động. Đây là nội dung được quy định tại Thông tư số 54/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ngày 16/12/2015 hướng dẫn về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi đối với người lao động làm công việc sản xuất có tính thời vụ và công vệc gia công hàng theo đơn đặt hàng.
Theo đó, tổng số giờ làm thêm của người lao động mỗi năm không được quá 300 giờ/năm. Trong đó, tổng số giờ làm việc tiêu chuẩn và giờ làm thêm một ngày của người lao động làm công việc sản xuất có tính thời vụ và công việc gia công hàng tháng theo đơn đặt hàng không được quá 12 giờ/ngày; 64 giờ/ tuần và không được quá 32 giờ làm thêm/tháng. Riêng đối với người lao động làm các nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì tổng số giờ làm việc tiêu chuẩn và làm thêm không quá 9 giờ/ngày, không quá 48 giờ làm việc tiêu chuẩn một tuần và không quá 24 giờ làm thêm trong một tháng.
Trường hợp người lao động làm việc trong ngày từ 10 giờ trở lên thì người sử dụng lao động phải bố trí cho họ được nghỉ thêm ít nhất 30 phút tính vào giờ làm việc, ngoài thời giờ nghỉ ngơi trong ca làm việc bình thường. Đặc biệt, doanh nghiệp phải bố trí để người lao động được nghỉ hoặc nghỉ bù đủ số ngày lễ, tết, nghỉ hằng năm và các ngày nghỉ có hưởng lương khác theo quy định.
Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 10/02/2016, thay thế Thông tư số 33/2011/TT-BLĐTBXH ngày 18/11/2011.
4. NGÀY 20 HÀNG THÁNG, BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG-THƯÆ NG BINH VÀ XÃ HỘI TRỰC TIẾP TIẾP CÔNG DÂN
Từ ngày 26/01/2015, Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội (Bộ) sẽ tiếp công dân định kỳ vào 20 hàng tháng tại Phòng tiếp công dân, số 2 phố Đinh Lễ, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội. Nếu ngày 20 trùng vào ngày nghỉ thì việc tiếp công dân được thực hiện vào ngày làm đầu tiên tiếp theo. Giám đốc Sở, Lãnh đạo các Cục, Tổng cục và đơn vị sự nghiệp công lập trực tiếp tiếp công dân định kỳ ít nhất 01 ngày trong một tháng. Địa điểm tiếp công dân của Bộ phải được bố trí sạch sẽ, khang trang, có biển ghi "Phòng tiếp công dân", niêm yết lịch và nội quy tiếp công dân.
Đây là nội dung được quy định tại Thông tư số 53/2015/TT-BLĐTBXH ngày 11/12/2015 của Bộ Thương binh và Xã hội hướng dẫn về quy trình tiếp công dân và xử lý đơn thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của ngành Lao động -Thương binh và Xã hội.
Thông tư cũng quy định cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp và cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc giúp Thủ trưởng cơ quan tiếp công dân phải bố trí cán bộ tiếp công dân có năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, thường trực tiếp công dân tại Phòng tiếp công dân; ghi chép nội dung tiếp công dân, nhận các thông tin, tài liệu do công dân cung cấp. Kết thúc việc tiếp công dân của Thủ trưởng, cơ quan, đơn vị chuyên môn có liên quan chịu trách nhiệm giúp Thủ trưởng chuẩn bị các văn bản trả lời công dân. Đặc biệt trong qúa trình tiếp công dân đến tố cáo, người tiếp công dân phải giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích người tố cáo, không tiết lộ những thông tin có hại cho người tố cáo và phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm cho người tố cáo không bị đe dọa, trù dập, trả thù. Riêng đối với đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết, người xử lý đơn dự thảo văn bản trình Thủ trưởng cơ quan trả lại đơn và hướng dẫn người gửi đơn khiếu nại đến cơ quan, người có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại.
5. MUA, THUÊ NHÀ Ở XÃ HỘI ĐƯỢC VAY TỐI ĐA 80% GIÁ TRỊ HỢP ĐỒNG MUA, THUÊ
Từ ngày 10/12/2015, các đối tượng vay vốn để thuê, mua nhà ở xã hội sẽ được vay tối đa 80% giá trị hợp đồng mua, thuê, thuê mua nhà tối thiểu là 15 năm, đồng tiền cho vay là đồng Việt Nam. Đây là một trong những nội dung quan trọng của Thông tư số 25/2015/TT-NHNN ngày 09/12/2015 của Ngân hàng nhà nước về hướng dẫn cho vay vốn ưu đãi thực hiện chính sách nhà ở xã hội.
Theo đó, khách hàng được vay tối thiểu là 15 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên để mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội với mức vốn cho vay tối đa bằng 80% giá trị hợp đồng mua, thuê, thuê mua nhà; vay vốn ưu đãi để xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở của mình với mức vốn cho vay tối đa bằng 70% giá trị dự toán hoặc phương án vay mà không vượt quá 70% giá trị tài sản bảo đảm tiền vay. Trường hợp khách hàng có nhu cầu vay với thời hạn ngắn hơn thời hạn cho vay tối thiểu thì được thỏa thuận với tổ chức tín dụng cho vay về thời hạn cho vay cụ thể.
Ngoài ra, các đối tượng vay vốn với mục đích xây dựng nhà ở xã hội chỉ để cho thuê, sẽ được Tổ chức tín dụng cho vay tối tiểu là 15 năm và tối đa không quá 20 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên với mức cho vay tối đa bằng 80% tổng mức đầu tư dự án, phương án vay và không vượt quá 80% giá trị tài sản. Đối với các đối tượng xây dựng nhà ở xã hội để cho thuê mua, bán sẽ được vay tối đa bằng 70% tổng mức đầu tư dự án, phương án vay và không vượt quá 70% giá trị tài sản bảo đảm tiền vay. Thời gian cho các đối tượng này vay tối thiểu là 10 năm và tối đa là 15 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên. Riêng đối với khách hàng vay vốn để xây dựng nhà ở xã hội để bán thì thời hạn cho vay tối thiểu là 05 năm và tối đa không quá 10 năm.
Lãi suất cho vay ưu đãi đối với khách hàng vay vốn đầu tư xây dựng nhà ở xã hội do Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố trong từng thời kỳ. Lãi suất cho khách hàng vay để mua, thuê, mua nhà ở xã hội; xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà để ở do Thủ tướng Chính phủ quyết định nhưng không vượt quá 50% lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng trên thị trường trong cùng thời kỳ.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/12/2015.
6. HỘ GIA ĐÌNH CÓ HOẠT ĐỘNG TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT VÀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI SẼ ĐƯỢC VAY VỚI LÃI SUẤT 1,2%/NĂM
Đây là nội dung được quy định tại Thông tư số 27/2015/TT-NHNN ngày 15/12/2015 hướng dẫn thực hiện cho vay trồng rừng sản xuất, phát triển chăn nuôi theo quy định tại Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020.
Theo đó, Các hộ gia đình có hoạt động trồng rừng sản xuất được Nhà nước giao đất, phát triển chăn nuôi bao gồm đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định, có thực hiện một trong các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng (bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên; trồng rừng, cây lâm sản ngoài gỗ trên đất quy hoạch phát triển rừng được Nhà nước giao đất; nhận khoán bảo vệ rừng) sẽ được Ngân hàng Nhà nước cho vay tiền không cần có tài sản bảo đảm để trồng rừng sản xuất, phát triển chăn nuôi. Đồng tiền cho vay là đồng Việt Nam, mức lãi suất là 1,2%/năm.
Trường hợp có nhiều cơ chế, chính sách tín dụng hỗ trợ cùng một nội dung thì áp dụng theo quy định của Thông tư này; đối với hộ gia đình còn dư nợ theo các chính sách ưu đãi khác thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại hợp đồng vay vốn đã ký.
Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 22/12/2015.